Nhà thuốc Hưng Thịnh

Phương pháp chẩn đoán bệnh Parkinson: Chẩn đoán dựa trên triệu chứng và dựa trên các xét nghiệm. Vài nét về Parkinson và thuốc điều trị thường được sử dụng để cải thiện tình trạng bệnh. 

Bệnh Parkinson là một trong những loại bệnh vô cùng phổ biến hiện nay. Mặc dù chưa có phương pháp chữa trị dứt điểm tuy nhiên vẫn có thể xử lý triệu chứng bằng các loại thuốc. Hãy cùng Nhà thuốc Hưng Thịnh tìm hiểu về những loại thuốc đó trong bài viết dưới đây nhé!

Phương pháp được dùng để chẩn đoán bệnh Parkinson

Chẩn đoán dựa trên triệu chứng

4 triệu chứng chính của bệnh Parkinson bao gồm: Run, đơ cứng cơ, bất động và cả rối loạn phản xạ tư thế. Ban đầu các triệu chứng chỉ diễn ra nhẹ và tiến triển từ từ.

  • Run: Với tần số từ 4 – 7Hz, thường xuất hiện bắt đầu từ 1 bên. Cụ thể là khởi đầu ở ngón cái và ngón trỏ, sau đó theo thời gian dần lan xuống chân và qua bên đối diện. Trường hợp nặng còn có thể xảy ra tình trạng run cả môi, lưỡi, cằm. Run xuất hiện rõ hơn khi nghỉ, giảm khi vận động có chủ ý hay là duy trì tư thế. Run thường mất khi ngủ, tăng khi stress và lo lắng. Đây là triệu chứng có thể coi là phổ biến và điển hình nhất. 

  • Đơ cứng cơ: Đây là hiện tượng kháng lại với những cử động thụ động, thường xảy ra ở cơ gấp và cơ duỗi, thường xuyên cũng như đồng nhất trong suốt toàn bộ cử động. Co cứng cơ thường xuyên khiến cho bệnh nhân cảm thấy nhức hoặc cứng, mỏi, yếu.

  • Bất động, giảm động hoặc là chậm vận động: Bệnh nhân có triệu chứng bất động như mặt nạ, thường ít biểu lộ cảm xúc, ít chớp mắt. Chữ viết cũng trở nên nhỏ dần, giọng nói nhỏ. Vận động chậm chạp hay giảm vận động.

  • Rối loạn phản xạ tư thế: Đây là triệu chứng trễ, có thể gây tàn phế. Bệnh nhân thường có tư thế nghiêng đầu và lưng ra trước, vai cong, gập nhẹ khớp háng, gối. Khi bắt đầu đi bộ, 2 chân giống như dán trên mặt đất, bước ngắn chậm, thường chúi người ra trước, kế đó bước nhanh, đột ngột cứng lại, khi đang đi thì không ngừng lại được ngay hay là xoay về 1 bên theo ý muốn.

    Vài nét về bệnh Parkinson và thuốc điều trị 1

    Chẩn đoán bệnh Parkinson dựa trên 4 triệu chứng chính 

Chẩn đoán xét nghiệm 

Hiện nay chưa có xét nghiệm cụ thể nào để chẩn đoán được chính xác bệnh Parkinson. Bác sĩ cần dựa trên tiền sử bệnh tật, xem xét kỹ các dấu hiệu, triệu chứng hiện tại, khám thần kinh cũng như toàn bộ cơ thể. Các quy trình khám lâm sàng có thể giúp cho bác sĩ định hướng chẩn đoán bệnh Parkinson. Đồng thời chính các triệu chứng cũng như dấu hiệu có được từ việc khám thần kinh sẽ phần nào hỗ trợ cho việc chẩn đoán cũng như xác định bệnh của bác sĩ.

Ngoài ra, bác sĩ còn có thể yêu cầu thực hiện các khảo sát như là xét nghiệm máu hay các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác như MRI, CT và PET để loại trừ các bệnh khác.

Ngoài việc thăm khám, để chẩn đoán bệnh Parkinson thì bác sĩ còn có thể kiểm tra phản ứng đáp ứng với carbidopa – levodopa bằng cách cho người bệnh uống thuốc carbidopa-levodopa sau đó đánh giá đáp ứng với thuốc. Người bệnh có thể sẽ được sử dụng liều vừa đủ để cho thấy việc sử dụng thuốc có cải thiện các dấu hiệu của bệnh Parkinson hay không.

Nếu như các triệu chứng được cải thiện đáng kể sau khi sử dụng thuốc thì có thể chẩn đoán rằng người đó đã mắc bệnh Parkinson. Tuy nhiên đối với những trường hợp phức tạp hơn, người bệnh có thể phải tái khám nhiều lần để điều tra tình trạng bệnh.

Vài nét về bệnh Parkinson và thuốc điều trị 2

Chẩn đoán bệnh dựa trên các xét nghiệm 

Bệnh Parkinson và thuốc điều trị được dùng

Carbidopa/ Levodopa

Carbidopa/ Levodopa thường được điều chế dưới dạng giải phóng nhanh, giải phóng kéo dài, và dạng viên nén có thể phân rã trong miệng. Một dạng mới hơn của carbidopa/levodopa giải phóng kéo dài (IPXo66) đã được thiết kế để có thể hấp thu nhanh hơn, dễ sử dụng, và thời gian tác dụng trên lâm sàng dài hơn. IPXo66 đã được chứng minh rằng có khả năng cải thiện được thời gian tác dụng mà không gây ra loạn động khó chịu hay giảm thời gian off trong quá trình bệnh Parkinson tiến triển 

Levodopa/ Carbidopa thường được sử dụng để điều trị các triệu chứng có liên quan đến bệnh Parkinson và các bệnh khác theo quy định của bác sĩ.

Đây là loại thuốc kết hợp anti dyskinetic. Levodopa được chuyển hóa bởi cơ thể và não tạo thành chất giúp giảm chấn động và các triệu chứng khác của bệnh Parkinson. Còn carbidopa giúp đưa levodopa đến được tới não. Do đó chúng thường được sử dụng kết hợp với nhau.

Đối với bệnh Parkinson giai đoạn đầu nên điều trị bằng thuốc viên tan rã dạng uống. Đầu tiên sử dụng 1 viên 3-4 lần một ngày. Bác sĩ có thể tiến hành điều chỉnh liều dùng khi cần thiết. Tuy nhiên, không nên sử dụng quá 8 viên mỗi ngày.

Vài nét về bệnh Parkinson và thuốc điều trị 3

Levodopa/ Carbidopa là loại thuốc phổ biến dùng để điều trị Parkinson

Nhóm thuốc đồng vận dopamine

Đây là nhóm thuốc có thể kích thích trực tiếp lên các receptor dopamine. Chúng có thời gian bán hủy dài hơn so với levodopa (trên 6 giờ), tuy nhiên cũng có tỷ lệ gây ra các tác dụng phụ như loạn thần, ảo giác và rối loạn kiểm soát ham muốn cao hơn.

Các đồng vận dopamin bao gồm pramipexole, ropinirole (dạng giải phóng nhanh và giải phóng kéo dài), rotigotine (dạng dán trên da), và cả apomorphine tiêm dưới da thường được sử dụng như một thuốc cứu nguy trong những giai đoạn off cấp tính.

Nhóm chất ức chế COMT

Các chất ức chế COMT có khả năng làm giảm quá trình phân hủy levodopa thành 3 – O – methyldopa. Cũng như tăng thời gian bán hủy của levodopa trong huyết tương cũng như diện tích dưới đường cong của nó. Các chất ức chế COMT thường được sử dụng kết hợp với levodopa để có thể cải thiện thời gian hết tác dụng cuối liều, mặc dù chúng có thể làm tăng rối loạn vận động. Các chất ức chế COMT thường được sử dụng hiện nay bao gồm entacapone và tolcapone.

Vài nét về bệnh Parkinson và thuốc điều trị 4

Entacapone thường được sử dụng kèm với levodopa

Nhóm chất ức chế MAO – B

Đây là nhóm thuốc có khả năng ngăn giáng hóa levodopa trong não và hạn chế tái hấp thu thuốc. Điển hình nhất là Selegiline, chúng có khả năng ức chế chọn lọc và không đảo ngược nên được cấp phép là thuốc bổ trợ cho levodopa ở bệnh nhân có các rối loạn vận động. 

Các thuốc kháng cholinergic

Được sử dụng nhiều nhất là trihexyphenidyl và benztropine. Chúng là những thuốc đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh Parkinson. Ngày nay chúng thường được dùng để điều trị run ở bệnh nhân trẻ mắc Parkinson vì những tác dụng phụ có thể gặp phải bao gồm khô miệng, lú lẫn, bí tiểu, và táo bón.

Vài nét về bệnh Parkinson và thuốc điều trị 5

Trihexyphenidyl hiện nay không được sử dụng nhiều do có nhiều tác dụng phụ 

Trên đây chính là những thông tin về bệnh Parkinson và thuốc điều trị được sử dụng. Cần lưu ý đây chỉ là kiến thức tham khảo, tuyệt đối không được tự ý sử dụng thuốc mà phải hỏi ý kiến của các bác sĩ. 

Thảo My 

Nguồn tham khảo: Tổng hợp

Lưu ý:
Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.