Nhà thuốc Hưng Thịnh

​​​​​​​Ung thư phổi tế bào nhỏ là căn bệnh nguy hiểm có tỉ lệ tử vong cao. Khó có thể loại bỏ các tế bào ung thư phổi tế bào nhỏ trong cơ thể. Hiện nay y khoa áp dụng các biện pháp điều trị có thể làm thu nhỏ các khối u và ngăn chặn sự phát triển của chúng trong cơ thể.

Ung thư phổi tế bào nhỏ được xem là căn bệnh ung thư ác tính nhất trong các loại bệnh ung thư, với tỉ lệ tử vong cao nhất trên thế giới, đa số là do suy kiệt cơ thể. Hiện nay các phương pháp điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ là hóa trị để tiêu diệt tế bào ung thư và sử dụng tia X liều cao hoặc tia năng lượng cao khác để xạ trị.

Hóa trị ung thư phổi tế bào nhỏ

Hóa trị là phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều trị ung thư. Hóa trị sử dụng các loại hóa chất có tác dụng tiêu diệt hoặc làm ngừng sự phát triển của tế bào ung thư. Hóa trị được xem là phương pháp điều trị chính của ung thư phổi tế bào nhỏ.

Thực hiện hóa trị như một cách can thiệp vào khả năng phân chia hoặc tăng trưởng của các tế bào tăng sinh nhanh (như tế bào ung thư) mà không ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh khác. Vì hầu hết các tế bào trong cơ thể của người trưởng thành không tăng sinh nhanh, chúng không bị ảnh hưởng nhiều bởi thuốc hóa trị, ngoại trừ tủy xương (nơi tạo ra các tế bào máu), nang lông, và niêm mạc ống tiêu hóa (dạ dày, ruột,…). Ảnh hưởng của hóa trị trên những mô này và các mô lành khác gây ra tác dụng phụ khi điều trị.

Thuốc hóa trị sử dụng để điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ đang được tiếp tục nghiên cứu thêm trong các thử nghiệm lâm sàng. Những bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ thường có hiệu quả hơn trong tác dụng làm giảm khối u (gọi là đáp ứng với điều trị) và kéo dài thời gian sống của bệnh nhân khi thực hiện kết hợp hai thuốc hóa trị. 

Hóa trị thường được thực hiện tiêm thuốc qua đường tĩnh mạch hoặc một số loại thuốc có thể được dùng qua đường uống.

Nói chung, bệnh nhân được chỉ định hóa trị được thực hiện trong khoảng thời gian từ một đến ba ngày và thường lặp lại sau mỗi ba tuần. Thời gian chờ/nghỉ vài tuần là cần thiết để tác dụng của thuốc hóa trị lên các mô bình thường trong cơ thể giảm dần và hồi phục trước khi bắt đầu đợt điều trị tiếp theo.

Thuốc hóa trị có tác dụng phá vỡ tế bào ung thư Thuốc hóa trị có tác dụng phá vỡ tế bào ung thư

Thời gian thực hiện hóa trị

Khoảng thời gian điều trị thường không cố định, bác sĩ sẽ lên kế hoạch tối ưu liệu trình hóa trị ban đầu dựa trên sự đáp ứng với điều trị và việc dung nạp điều trị. Thông thường, các bác sĩ lên phác đồ từ 4 đến 6 chu kỳ hóa trị ban đầu.

Hóa trị bệnh nhân giai đoạn giới hạn

Thuốc được sử dụng kết hợp thực hiện hóa trị phổ biến nhất cho giai đoạn này là Cisplatin (Platinol) và Etoposide (VP-16). Do tỷ lệ các phản ứng phụ liên quan đến Cisplatin là khá cao, vì thế Carboplatin (Paraplatin) ít tác dụng phụ hơn nhưng hiệu quả tương đương thường được sử dụng để thay thế.

Hóa trị bệnh nhân giai đoạn lan rộng

Bệnh nhân ở giai đoạn này thường được điều trị bằng Cisplatin/Carboplatin kết hợp với Etoposide hoặc Irinotecan (Camptosar). Có sự khác biệt khi điều trị ở bệnh nhân là người Nhật, tác dụng của Irinotecan có vẻ có hiệu quả hơn Etoposide. Ngược lại, ở các bệnh nhân người da trắng, hai loại thuốc này có hiệu quả tương đương nhưng Etoposide ít gây tác dụng phụ nghiêm trọng hơn.

Tác dụng phụ xảy ra khi điều trị hóa trị

Hóa trị là dẫn truyền thuốc vào cơ thể để tác động đến tế bào trong cơ thể. Tế bào bình thường cũng như các tế bào ung thư, dẫn đến một loạt các tác dụng phụ tiềm ẩn. Sau khi hóa trị, bệnh nhân có thể cần được theo dõi chặt chẽ những tác dụng phụ này.

Tác dụng phụ ảnh hưởng nhất của hóa trị là sự giảm tạm thời số lượng bạch cầu, hồng cầu hoặc/và tiểu cầu làm ức chế tủy xương. Các tác dụng phụ này thường xuất hiện từ một đến hai tuần sau khi truyền thuốc. Bệnh nhân nên được theo dõi các triệu chứng như sốt hoặc ớn lạnh, bệnh nhiễm trùng có thể đe doạ đến tính mạng.

Ngoài ra, các tác dụng phụ khác của hóa trị bao gồm:

  • Mệt mỏi.
  • Rụng tóc.
  • Buồn nôn, nôn mửa.
  • Tê hoặc đau ở ngón tay và ngón chân.
  • Mất thính giác.
  • Tiêu chảy.
  • Loét miệng, giảm ăn, thay đổi khẩu vị và suy giảm chức năng thận.

Xạ trị ung thư phổi tế bào nhỏ

Xạ trị thường được chỉ định khi cần kết hợp trong quá trình hóa trị ở những bệnh nhân bị ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn giới hạn. Phương pháp này sử dụng tia X năng lượng cao tập trung vào vị trí của khối u để diệt tế bào ung thư. 

Xạ trị thường được thực hiện theo đợt điều trị ngắn (10 đến 15 phút) và không gây đau, tiến hành hai lần một ngày, kéo dài trong ba tuần. Trong một số trường hợp, xạ trị được thực hiện một lần một ngày (ở liều cao hơn). Tia xạ được chiếu vào các vùng bị ảnh hưởng bởi ung thư trên cơ thể. Do đó, khác với hóa trị là điều trị toàn thân, xạ trị là phương pháp điều trị cục bộ/tại chỗ, và các phản ứng phụ nói chung chỉ xảy ra ở khu vực nhận chiếu xạ.

Xại trị sử dụng tia X năng lượng cao Xại trị sử dụng tia X năng lượng cao

Xạ trị vùng ngực

Kết quả nghiên cứu ở những bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn giới hạn đã cho thấy xạ trị vùng ngực có thể làm giảm nguy cơ ung thư tái phát ở ngực sau điều trị ban đầu. Xạ trị vùng ngực được tiến hành ở những bệnh nhân giai đoạn nặng, có khối u rất lớn.

Xạ trị vào ngực cũng được sử dụng ở một số bệnh nhân giai đoạn lan rộng có phản ứng tốt với hóa trị ban đầu nhưng vẫn còn khối u trong phổi hoặc hạch bạch huyết.

Tác dụng phụ liên quan đến xạ trị xuất hiện dần dần qua các tuần điều trị, bao gồm:

  • Mệt mỏi.
  • Da đỏ nhẹ ở ngực và lưng.
  • Khó nuốt hoặc đau do viêm thực quản.
  • Viêm hoặc tạo sẹo ở mô phổi bình thường xung quanh khối u dẫn đến ho, khó thở và ra đờm nhiều.

Xạ trị vào não

Não là một trong những vị trí mà ung thư phổi tế bào nhỏ thường di căn tới.

Xạ trị vào não giúp làm giảm đáng kể nguy cơ di căn não và kéo dài thời gian sống sót. Phương pháp này được gọi là xạ trị dự phòng (prophylactic cranial irradiation, PCI). Bác sĩ thường chỉ định điều trị xạ trị não nếu ung thư ở các phần còn lại của cơ thể đã đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn đối với hóa trị hoặc hoá xạ trị ban đầu.

Ở những bệnh nhân đã di căn não, xạ trị vào não thường được đề nghị để kiểm soát triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Phẫu thuật khối u ung thư phổi tế bào nhỏ

Vì đặc tính của tế bào ung thư phổi tế bào nhỏ có tốc độ di căn hay lan nhanh, do đó thực hiện phẫu thuật cắt bỏ khối u phổi thường không làm tăng khả năng hay thời gian sống sót của bệnh nhân. 

Thực hiện phẫu thuật thường được phối hợp đi kèm liệu pháp hóa trị sau đó có thể giúp tăng tỉ lệ sống sót 5 năm lên đến 35 – 40%.

Phẫu thuật cắt bỏ khối u Phẫu thuật cắt bỏ khối u

Thông thường, trước khi cân nhắc phẫu thuật, nội soi trung thất thường được cân nhắc lợi ích thực hiện để khảo sát vùng trung thất. Nếu các hạch bạch huyết vùng này không chứa bất kỳ tế bào ung thư nào, phẫu thuật cắt bỏ ung thư phổi sẽ được tiến hành, theo sau đó là hóa trị, đi kèm hoặc không kèm theo xạ trị.

Mục tiêu của các liệu pháp điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ kể trên là làm giảm triệu chứng, duy trì chất lượng cuộc sống, và kéo dài thời gian sống. Hóa trị vẫn có tỷ lệ phản ứng cao, với 60 – 80% bệnh nhân có khối u thu nhỏ đáng kể và 10 – 15% có khối u biến mất hoàn toàn.

Tuy nhiên, bệnh này thường có xu hướng tái phát hoặc lờn thuốc trong vòng 1 – 2 năm ở đa số bệnh nhân. Khi đó, hóa trị với thuốc khác có thể giúp giảm nhẹ triệu chứng và cải thiện thời gian sống. 

Ly Nguyễn

Nguồn tham khảo: Yhoccongdong

Lưu ý:
Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.