Nhà thuốc Hưng Thịnh

Nhắc đến các bệnh liên quan đến phổi thì không thể không nhắc đến hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS. Hội chứng này không những làm thiếu oxy lên máu mà còn làm tăng công hô hấp và nhiễm toan hô hấp. Vậy hội chứng suy hô hấp cấp tính – ARDS là gì? Hãy cùng tìm hiểu nhé!

Để lý giải ARDS là gì thì hãy cùng Nhà thuốc Hưng Thịnh tìm hiểu: Nguyên nhân gây ra ARDS là gì? Biểu hiện như thế nào? Các giải pháp chữa trị bệnh. Cùng tìm hiểu ngay thôi nào!

ARDS là gì?

ADRS còn được gọi là hội chứng suy hô hấp cấp tính, được mô tả và báo cáo bởi Ashbaugh và các cộng sự của ông vào năm 1967. Hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS là một loại hội chứng bệnh lý mà trong đó màng phế mao mạch phổi bị tổn thương cấp tính, do đó sẽ dẫn đến suy hô hấp nặng, vì vậy cơ thể sẽ không đáp ứng được với thở oxy liều cao. 

ARDS là hiện trạng đe doạ tính mạng do viêm các phế nang ở trong phổi. Do vậy, bệnh lý dẫn tới sự tích tụ dịch trong các túi khí, làm ngăn chặn oxy vào máu, và các phần của cơ thể. Do đó có thể gây ra suy hô hấp và dẫn tới tử vong nếu không được điều trị nhanh chóng.

Hội chứng suy hô hấp cấp tính - ARDS là gì? 1 Hội chứng suy hô hấp cấp tính – ARDS là gì không phải ai cũng biết

Cơ chế của hội chứng ARDS

Cơ chế hội chứng suy hô hấp cấp tính được chia ra thành 3 vùng: Vùng lành, vùng động viên được, vùng bệnh.

Vùng lành: Tại vùng này phổi vẫn bình thường, có độ giãn nở và độ đàn hồi hoạt động bình thường.

Vùng động viên được: Khi phổi của người mắc ARDS thì có một vùng các phế nang ở bìa xép xuống cùng với các phế quản nhỏ. Nếu được động viên bằng PEEP thì vùng này sẽ hoạt động bình thường.

Vùng bệnh: 

  • Tuỳ vào tình trạng và sự tiến triển của suy hô hấp cấp tính mà vùng phổi của bệnh nhân ARDS có thể nặng, sẽ đỏ kiểu can hoá hoặc sẽ xám kiểu xơ hoá nhẹ hơn.

  • Khi xét nghiệm vị thể của vùng bệnh màng phế nang mao mạch bị tổn thương ở nhiều lớp khác nhau, từ lòng phế nang ra đến ngoài. 

  • Trong phế nang, màng surfactant là lớp bao phủ bị tổn thương đầu tiên, mà lớp màng trong không có tác dụng hô hấp cũng như hạn chế sự khuếch tán khí.

  • Lớp thượng bì gồm có phế bào màng và phế bào hạt thì bị phá huỷ; lớp kẽ thì bị phù nề chứa đầy fibrin, albumin; còn lớp nội mạc mao mạch có nhiều máu bị tắc có chứa nhiều fibrin. Bên cạnh đó, lòng phế nang cũng chứa nhiều fibrin, albumin.

  • Các tổn thương này gây ra phù vách phế nang, giảm độ đàn hồi; bên cạnh đó, protein thoát ra ngoài lớp kẽ gây màng phế nang dày lên và xơ hoá. Do vây, chức năng của phổi bị suy giảm không thể hồi phục được hoàn toàn.

Nguyên nhân gây ra hội chứng ARDS

Nguyên nhân trực tiếp (tại phổi)

Nguyên nhân thường gặp: 

  • Do viêm phổi nặng: Nguyên nhân này có thể là do nhiễm virus như cúm A H5N1, SARS…; hoặc viêm phổi do vi khuẩn như liên cầu, phế cầu, Hemophilus Influenzae…

  • Trào ngược dạ dày: Chủ yếu gặp ở trạng thái hôn mê hoặc say rượu. Do vậy, dịch dạ dày tiết ra gây ra tổn thương phổi trên diện rộng kèm theo xẹp phổi.

Nguyên nhân ít gặp:

  • Ngạt nước làm tổn thương màng Surfactant.

  • Do hít heroine, tiêm chích, sử dụng các chất kích thích.

  • Do chấn thương lồng ngực nặng gây ra dập phổi.

  • Tổn thương phổi do bị hít khói độc.

  • Thuyên tắc do nước ói, do cả mỡ.

Nguyên nhân gián tiếp (ngoài phổi)

Nguyên nhân thường gặp:

  • Do nhiễm khuẩn nặng, sốc nhiễm trùng hoặc nhiễm trùng huyết (sepsis).

  • Do chấn thương nặng với choáng hoặc truyền máu nhiều lần.

Nguyên nhân ít gặp:

  • Do bị gãy xương nhiều.

  • Do bị chấn thương đầu.

  • Do bị bỏng nặng.

  • Do bị viêm tuỷ cấp.

  • Do truyền dịch quá mức độ.

  • Do truyền các chế phẩm máu.

  • Dùng quá liều thuốc.

  • Do đông máu nội mạch lan tỏa.

  • Bị sốc phản vệ.

  • Do bạch cầu cấp.

  • Do thông nối tim phổi.

Hội chứng suy hô hấp cấp tính - ARDS là gì? 2 Viêm phổi là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng ARDS

Biểu hiện của hội chứng ARDS

Tùy theo tình trạng bệnh của từng đối tượng mà gây ra nhiều biểu hiện lâm sàng và biểu hiện cận lâm sàng.

Biểu hiện lâm sàng

Trong khoảng từ 4 – 48 giờ biểu hiện lâm sàng sẽ diễn ra mà nguyên nhân tại phổi hoặc toàn thân: 

  • Tại phổi: Có dấu hiệu ngạt nước, nhồi máu phổi, tắc mạch do nước ối, hít phải dịch vị, viêm phế quản phổi…

  • Tại toàn thân: Viêm não, phù não, xuất huyết não, suy thận cấp, hôn mê đái tháo đường, sốc nhiễm khuẩn, bỏng do chấn thương, ngộ độc cấp, sốt huyết, cúm.

Theo nghiên cứu, hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS có 4 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn dù phổi đã bị tổn thương nhưng khi nghe phổi vẫn chưa có rên, chụp X-quang phổi vẫn còn sáng, và có tăng thông khí gây kiềm hô hấp.

  • Giai đoạn 2: Ở giai đoạn này, người mắc bệnh cảm thấy hơi khó thở, nhưng lồng ngực còn di động tốt, biểu hiện này sẽ kéo dài từ 1 – 3 ngày.

  • Giai đoạn 3: Tại giai đoạn này, bệnh đã hiện rõ ra hơn. Lúc này, người mắc hội chứng này sẽ khó thở, kiểu phù phổi cấp tổn thương, nhịp thở mỗi lúc một nhanh, kéo theo biểu hiện xanh tím và mồ hôi. Đồng thời, lồng ngực cũng đã bắt đầu di động kém, ở hai bên phổi sẽ rên ầm và rên nổ rải rác, bị rối loạn ý thức.

  • Giai đoạn 4: Ở giai đoạn này, sẽ tăng PaCO2 và sẽ giảm PaO2 toan chuyển hoá cuối cùng và gây ra tình trạng hôn mê, suy tim do thiếu oxy.

Biểu hiện cận lâm sàng

Một số biểu hiện cận lâm sàng có thể xảy ra là:

  • Giảm áp lực keo huyết tương.

  • PaCO2 bình thường, có thể sẽ hơi giảm, hoặc tăng cao khi phổi lớn bị tổn thương.

  • SaO2, PaO2 sẽ rất thấp.

  • Khi chụp phổi sẽ thấy: Viêm phế quản, phế viêm, viêm phổi khối, hai phổi bị mờ, kiểu phổi trắng, hình cánh bướm mờ rải rác.

  • Khi chụp X-quang ngực sẽ thấy thâm nhiễm lan toả hai bên phế trường.

Hội chứng suy hô hấp cấp tính - ARDS là gì? 3 Viêm phế quản là biểu hiện cận lâm sàng của hội chứng ARDS

Ảnh hưởng của hội chứng

Hội chứng suy hô hấp cấp tính có thể gây ra:

  • Làm suy giảm sự trao đổi khí.

  • Khiến độ giãn nở thấp.

  • Làm khoảng chết gia tăng.

  • Làm tăng áp động mạch phổi.

Cách điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS

Hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS nếu không được điều trị sớm, chữa đúng cách sẽ khiến người mắc bệnh có thể tử vong chỉ trong vài giờ hoặc vài ngày.

Khi điều trị thì nguyên tắc chung của hội chứng này là cần thông khí nhân tạo để bảo vệ phổi sẽ gồm có: Thở máy, an thần cộng với giãn cơ, phải đảm bảo được huyết động và cân bằng dịch vào ra.

Bên cạnh những phương pháp trên, thì có thể kết hợp một số biện pháp khác:

  • Kiểm soát lượng glucose trong máu.

  • Dùng liệu pháp kháng chống nhiễm khuẩn.

  • Khi bị viêm phổi do virus cúm A thì tham khảo phác đồ điều trị viêm phổi.

  • Sử dụng heparin liều dự phòng khi bị tắc mạch.

  • Khi bị loét đường tiêu hoá thì dùng một thuốc ức chế bơm proton như omeprazol.

  • Nên tham khảo quy trình kỹ thuật huy động phế nang.

  • Phải đảm bảo đủ hemoglobin.

  • Tiếp tục theo dõi và điều trị củng cố: Sau vài 3 ngày điều trị tốt, bệnh nhân sẽ tỉnh, da dẻ hồng hào và mạch huyết áp ổn định.

  • Bệnh nhân nên tích cực điều trị viêm phổi để tránh phát triển thành ARDS.

Hy vọng bài viết trên đã giúp các bạn hiểu ARDS là gì cũng như nhận biết được nguyên nhân, biểu hiện của hội chứng sớm để có thể điều trị kịp thời. Chúc bạn đọc thật nhiều sức khỏe!

Ánh Vũ

Nguồn tham khảo: Tổng hợp

Lưu ý:
Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.